Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Trang chủ
Giới thiệu>
Tin tức sự kiện>
Lĩnh vực chuyên môn>
Ấn phẩm thống kê
Văn bản>
Liên hệ
Sơ đồ
Tình hình KT-XH
Tình hình KT-XH tháng 11/2017 (27/11/2017)

I. CÔNG NGHIỆP

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 11 tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,52%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 7,85% so với cùng kỳ.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp 11 tháng tăng 7,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,23%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 5,99%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 8,49%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Tôm đông lạnh tăng 23,29%; gạo xay xát tăng 10,39%; thức ăn cho gia súc tăng 1,69%; thức ăn cho thủy sản tăng 6,94%; bia lon tăng 9,16%; nước ngọt tăng 3,68%; nước yến và nước bổ dưỡng khác tăng 4,2%; dệt tăng 3,4%; quần áo tăng 37,37%; cưa xẻ gỗ tăng 11,11%; bao và túi bằng giấy tăng 7,05%; thùng, hộp bằng bìa cứng tăng 15,27%; sản phẩm in khác tăng 8,92%; dược phẩm tăng 7,8%; bao và túi bằng plastic khác tăng 20,81%; xi măng tăng 18,73%; thép tăng 0,31%; tủ bằng gỗ khác (trừ tủ bếp) tăng 7,91%; bộ sa lông tăng 4,38%; găng tay thể thao tăng 19,81%; nước sinh hoạt tăng 9,42%. Nguyên nhân tăng là do các hộ sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thành kế hoạch năm đề ra, không ngừng kết hợp xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu và luôn đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã, quan tâm đến chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm… Đồng thời, các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm thị trường mới, đối tác mới, liên tục có các chính sách điều chỉnh giá bán và chính sách bán hàng, chiết khấu phù hợp nhằm đẩy mạnh sức tiêu thụ. Đặc biệt là các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống, in ấn các loại, may mặc đang có xu hướng tăng do nhu cầu phục vụ người tiêu dùng vào dịp cuối năm, đồng thời đảm bảo nguồn hàng cung cấp cho thị trường và hoàn thành các hợp đồng đã ký kết.

Bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất như: nguồn nguyên liệu đầu vào còn thiếu và không ổn định; sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu hàng thủy sản; ngành sản xuất thức ăn gia súc có xuất khẩu nhưng ở mức thấp, chủ yếu là tiêu dùng nội địa, sức mua của thị trường vẫn chưa cao. Bên cạnh đó, giá cá tra nguyên liệu tăng cao do nguồn cung yếu so với trước và gần đây nhiều doanh nghiệp tăng cường thu mua nguyên liệu nhằm phục vụ nhu cầu của các nhà máy chế biến dịp cuối năm. Theo nhiều doanh nghiệp, giá các sản phẩm cá tra xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng lên so với trước do nhiều nước tăng nhu cầu nhập khẩu hàng, nhất là thị trường Trung Quốc.

Sản phẩm gạo và tình hình xuất khẩu gạo còn gặp khó khăn, việc xuất khẩu lúa gạo hiện nay phải cạnh tranh gay gắt ở các thị trường trong nước cũng như ngoài nước. Các doanh nghiệp chủ yếu là xay xát gạo, lau bóng gạo gia công phục vụ cho thị trường nội địa nên sức tiêu thụ sản phẩm gạo chưa nhiều.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 11/2017 đạt 94,46% so với tháng trước. Một số sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng như: In ấn tăng 38,92%; chế biến, bảo quản thủy sản tăng 14,13%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 8,18%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 7,14%; sản xuất trang phục tăng 6,86%; xay xát và sản xuất bột thô tăng 6,26%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,81%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,4%; sản xuất đồ uống tăng 3,23%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,69%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,84%; dệt tăng 1,62%; sản xuất kim loại tăng 1,04%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 0,7%. Bên cạnh đó có một số sản phẩm sức tiêu thụ giảm như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,28%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 2,93%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 3,26%; sản xuất thức ăn gia súc giảm 13,92%; Sản xuất dụng cụ thể dục, thể thao giảm 38,45%. Qua chỉ số trên cho thấy, sức tiêu thụ chưa nhiều do khó khăn về kinh tế, sức mua trên thị trường chưa có dấu hiệu hồi phục đồng thời do người tiêu dùng luôn thắt chặt chi tiêu, máy móc thiết bị còn lạc hậu nên mẫu mã sản phẩm chưa đẹp, chất lượng chưa cao, thêm vào đó khả năng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 11/2017 đạt 102,11% so với tháng trước. Trong đó có một số sản phẩm có chỉ số tồn kho còn nhiều so với cùng kỳ như: chế biến thực phẩm; dệt; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất dụng cụ thể dục, thể thao. Với chỉ số trên cho thấy lượng hàng tồn kho chưa được giải phóng hết do sức tiêu thụ chưa nhiều. Để giảm lượng hàng tồn kho, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường một cách đầy đủ và chính xác để có những sản phẩm đáp ứng kịp thời thì khả năng tiêu thụ sản phẩm sẽ cao. Hơn nữa, doanh nghiệp cần tăng cường quảng bá, khuyến mãi, giảm giá, thanh lý hàng tồn… đồng thời khâu giới thiệu sản phẩm từ doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ trong quá trình thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tồn kho.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp  tháng 11/2017 tăng 0,4% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,64%, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,42% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn giữ mức ổn định. Số lao động tại các doanh nghiệp vẫn duy trì bình thường với mức tăng nhẹ, do nhịp độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khá đều đặn, và đời sống của công nhân được đảm bảo tốt nên số lao động không biến động nhiều do đó mức tăng giảm không đáng kể.

II. NÔNG LÂM NGHIỆP - THUỶ SẢN

1. Nông nghiệp

1.1. Trồng trọt

- Cây lúa: Diện tích lúa vụ Thu đông toàn thành phố đạt 73.618 ha giảm 2,45% so với cùng kỳ, so với kế hoạch (KH 52.600 ha) đạt 139,96%. Do lũ năm nay về sớm và lớn, người dân chỉ gieo trồng lúa trong đê bao kiên cố, diện tích ngoài đê bao người dân không xuống giống… Bên cạnh đó, ở một số địa phương người dân lên bờ trồng cây ăn trái và chuyển sang nuôi cá trên ruộng. Ngành Nông nghiệp tiếp tục triển khai 78 mô hình cánh đồng lớn, có 12.193 hộ tham gia với diện tích ước được 17.309 ha; Các giống lúa chất lượng cao được nông dân ưa chuộng tiếp tục gieo sạ như: OM 5451: 46% so với diện tích gieo trồng, OM 4218: 24%, IR 50404: 22%, Jasmine 85: 2%,... và các giống khác 6%.

Đến ngày 15/11/2017, diện tích lúa Thu đông đã thu hoạch dứt điểm; Năng suất gieo trồng ước 49,79 tạ/ha, tăng 5,46% so với cùng kỳ, tương đương 2,58 tạ/ha; sản lượng đạt 366.510 tấn, tăng 2,87% so cùng kỳ, tương đương 10.232 tấn.

Nguyên nhân năng suất và sản lượng tăng:

Do thời tiết từ đầu vụ đến lúc thu hoạch thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây lúa, tuy lũ về sớm, nhưng phần lớn diện tích xuống giống của các quận, huyện đầu nguồn đều nằm trong đê bao an toàn, nên bà con luôn chủ động được lượng nước cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa.

Một số nơi có sâu, bệnh xuất hiện cục bộ như  rầy nâu, sâu cuốn lá, chuột cắn phá… được phát hiện kịp thời nên nông dân đã ứng dụng các giải pháp kỹ thuật để xử lý, khống chế sự phát triển của dịch hại, vì thế không ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây lúa.

Đến ngày 15/11/2017, giá lúa khô ổn định so với tháng trước cụ thể như sau: giá lúa chất lượng cao hạt dài OM từ 5.800-6.000 đồng/kg, lúa IR từ 5.400-5.600 đồng/kg. Nhìn chung, do năm nay các doanh nghiệp tìm kiếm ký kết được nhiều hợp đồng xuất khẩu, nên giá lúa Thu đông hiện tăng 400-500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Với tình hình mưa lũ như hiện nay, ngành Nông nghiệp nên thường xuyên kiểm tra, tăng cường gia cố đê bao để tránh ngập úng. Theo dõi tình hình thời tiết, nhất là mực nước nội đồng, triều cường kết hợp với mưa bão, hướng dẫn nông dân chuẩn bị máy bơm khi cần thiết. Vận động bà con nông dân tích cực thu gom, tiêu diệt ốc bươu vàng trên đồng ruộng, đảm bảo cắt nguồn dịch hại cho lúa ngay trong mùa nước lũ; Đối với những vùng đất cao, ngay sau khi thu hoạch lúa Thu đông cần tích cực vận động nông dân vệ sinh đồng ruộng, trục xới đất, đưa nước vào ruộng để nhấn chìm rơm rạ vì đây là những nơi lưu tồn, tích lũy mầm dịch bệnh, đồng thời hạn chế ngộ độc hữu cơ do rơm rạ chưa kịp phân hủy.

- Cây hàng năm

Đến ngày 15/11/2017, toàn TP đã xuống giống gieo trồng cây hàng năm khác vụ Đông xuân 2018 với diện tích ước được 209 ha, đạt 1,72% so với kế hoạch, chậm hơn cùng kỳ 654 ha. Bên cạnh đó, bà con tiếp tục chăm sóc và thu hoạch diện tích các nhóm cây hàng năm đã gieo trồng trong vụ mùa 2017, năng suất ổn định so với cùng kỳ.

- Cây lâu năm

Hiện nay, diện tích cây ăn trái là 17.121 ha, tăng 7,1% so cùng kỳ, do nông dân chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái. Ngành Nông nghiệp cần tiếp tục vận động nông dân khôi phục vườn cây ăn trái tập trung, chuyên canh. Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện đã xây dựng được các vườn cây ăn trái kiểu mẫu kết hợp phát triển du lịch sinh thái…

Trong tháng, do ảnh hưởng lũ và triều cường, nước rút chậm, hầu hết vườn cây ăn trái, rau màu bị ngập đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Chính vì vậy, ngành Nông nghiệp cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, tập huấn hướng dẫn nông dân các giải pháp kỹ thuật khắc phục vườn cây ăn trái sau lũ; khai rãnh mặt liếp để hạ nhanh mực thuỷ cấp trong vườn; xới mặt đất bằng cào răng (ở vùng tán cây) để phá sự kết váng, giúp mặt đất được thông thoáng

1.2. Chăn nuôi

Đàn Trâu, Bò: Tính đến 01/10/2017 đàn Trâu toàn TP có 160 con, đàn Bò có 4.680 con (So thời điểm thời điểm 01/4/2017 tăng 495 con ).

Nguyên nhân tăng là do nhu cầu sử dụng thịt thương phẩm cao nên một số hộ kinh doanh mua bò ngoài địa bàn về vỗ béo bán lại cho thương lái, và các nơi giết mổ trong và ngoài tỉnh nên tổng đàn luôn biến động.

Bò vẫn là một trong những vật nuôi chính trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông hộ.

Đàn Heo: Tổng đàn heo toàn TP có đến 01/10/2017 là 131.162 con, so cùng kỳ năm 2016 giảm 18,63%, giảm 30.033 con; So thời điểm 01/4/2017, đàn heo giảm 3,83%, giảm 5.217 con.

Nguyên nhân đàn heo biến động giảm như trên là do trong kỳ tình hình chăn nuôi heo vẫn gặp khó khăn, giá thịt heo hơi bình quân dao động từ 24.000-27.000 đ/kg, chưa đủ để hòa vốn. Trong khi đó, các chi phí chăn nuôi ngày càng tăng, khiến người chăn nuôi heo khó khăn. Nhiều hộ nhỏ lẻ không còn vốn đầu tư nuôi tiếp, các gia trại, trang trại vẫn tiếp tục nuôi nhưng đều có xu hướng giảm quy mô đàn.

Đàn gia cầm: Tính đến 01/10/2017, đàn gia cầm TP Cần Thơ có 1.872 ngàn con, so 01/10/2016 giảm 9,12%, giảm 188.000 con. Trong đó, đàn Gà đạt 574 ngàn con, so 01/10/2016 giảm 13,62%; đàn Vịt đạt 1.298 ngàn con, so 01/10/2016 giảm 7,18%, giảm 95 ngàn con.

Nguyên nhân giảm chủ yếu ở đàn vịt thời vụ và đàn gà. Do diễn biến thời tiết phức tạp, nắng nóng, nước lũ năm nay về nhiều, có thể phát sinh một số loại dịch bệnh, nên bà con nông dân không tái đàn một cách ồ ạt, mà chỉ chăn nuôi cầm chừng chủ yếu để tiêu dùng trong gia đình, diện tích chăn nuôi ngày càng bị thu hẹp. Thêm vào đó, nước lũ dâng cao gây khó khăn trong việc chăn thả đàn vịt đẻ trứng, nông dân nuôi vịt chạy đồng phải chăn thả ở các tỉnh khác như An giang, Kiên giang, chi phí tăng lên nên bà con nông dân chưa yên tâm phát triển đàn gia cầm.

2. Lâm nghiệp

           Người dân địa phương tiếp tục chăm sóc các cây đã trồng và khai thác các cây đủ tiêu chuẩn phục vụ cho nhu cầu xây dựng, làm chất đốt trong đời sống.

3. Thủy Sản

          Phong trào nuôi thủy sản bị tác động nhiều của thị trường xuất khẩu, nhất là cá tra. Hiện nay giá cá tra đang ở mức khá cao khoảng 25.000-27.500 đ/kg, ổn định từ đầu năm đến nay giúp cho người nuôi nhiều thuận lợi. Nguyên nhân giá cá tăng so với cùng kỳ là do tình hình xuất khẩu các tháng trong năm gặp nhiều thuận lợi như ngành Công thương của thành phố đã hỗ trợ một số doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn trên địa bàn về thủ tục hải quan và tìm thị trường đầu ra.

Diện tích thả nuôi cá trên ruộng ước khoảng 4.845 ha giảm khoảng 14% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất cùng các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 07 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 169,7 ha và đã mở rộng diện tích nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn 201 ha, gồm: 191 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP) và 10 ha BAP + ASC + GlobalGAP.

Toàn thành phố có khoảng 109 cơ sở sản xuất giống, cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận.

III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

Tình hình thực hiện kế hoạch XDCB 11 tháng năm 2017 nhìn chung ổn định. Năm 2017 tình hình giá cả vật liệu xây dựng, nguyên - nhiên liệu biến động mạnh, giá cát xây dựng tăng cao, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công các công trình đang thực hiện, cũng như lập dự toán cho các dự án công trình mới.

Ước thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 năm 2017 được 467,33 tỷ đồng. Trong đó vốn cân đối ngân sách thành phố thực hiện được 84,09 tỷ đồng, vốn trung ương h trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện được 8,85 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA 76,24 tỷ đồng, vốn xổ số kiến thiết 48,16 tỷ đồng, nguồn vốn khác thực hiện được 123,34 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp huyện thực hiện được 126,64 tỷ đồng.

Ước thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2017 thực hiện được 4.270,1 tỷ đồng đạt 90,51% kế hoạch điều chỉnh tháng 11 năm 2017. Trong đó vốn cân đối ngân sách thành phố là 668,38 tỷ đồng đạt 89,38% kế hoạch, vốn trung ương h trợ đầu tư theo mục tiêu 151,4 tỷ đồng đạt 96,15% kế hoạch, Vốn nước ngoài ODA 855,65 tỷ đồng đạt 91,75% kế hoạch năm, vốn xổ số kiến thiết 564,44 tỷ đồng đạt 91,85% kế hoạch, nguồn vốn khác thực hiện được 722,24 tỷ đồng đạt 87,01% kế năm, nguồn vốn ngân sách cấp huyện thực hiện được 1.308 tỷ đồng đạt 91,12% kế hoạch năm.

Nhìn chung 11 tháng năm 2017 tiến độ thi công các công trình thuộc nguồn vốn ngân sách trên địa bàn thành phố đạt yêu cầu so với kế hoạch.

Tình hình thực hiện một số dự án trọng điểm trên địa bàn Thành phố:

Dự án Phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu (Dự án 3) có tổng mức đầu tư 7.339 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2017 được giao 601 tỷ đồng, từ đầu năm đến nay thực hiện được 202,14 tỷ đồng đạt 33,44% kế hoạch năm 2017. Chủ đầu tư và đơn vị thi công đang quyết liệt thực hiện các hạng mục công trình, để dự án sớm hoàn thành đúng kế hoạch.

Dự án Trường THPT Châu Văn Liêm (2014) được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cấp thành phố, với tổng mức đầu tư 106,85 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2017 được giao 34,78 tỷ đồng, từ đầu năm đến nay dự án thực hiện 2,27 tỷ đồng đạt 6,53% kế hoạch năm 2017. Đây cũng là một trong những dự án chậm tiến độ của thành phố, vì đến tháng 9/2017 dự án mới được cấp vốn triển khai thực hiện.

Dự án Trường chính trị Tp Cần Thơ có tổng mức đầu tư 175,545 tỷ đồng, do Ban Quản lý dự án đầu tư TP Cần Thơ làm chủ đầu tư, công trình thực hiện từ nguồn vốn ngân sách cấp thành phố. Kế hoạch năm 2017 được bố trí 79,04 tỷ đồng, đến tháng 10/2017 thực hiện trên 75 tỷ đồng đạt 94,94% kế hoạch vốn năm 2017. Đến nay, dự án đang trong giai đoạn hoàn thiện.

Dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn có tổng mức đầu tư 416,74 tỷ đồng, công trình thực hiện từ nguồn vốn ngân sách. Kế hoạch năm 2017 được bố trí 120 tỷ đồng, đến tháng 10/2017 thực hiện trên 64 tỷ đồng đạt 53,33% kế hoạch vốn năm 2017.

Nhìn chung, từ đầu năm đến nay, đa số các công trình dự án đều đang triển khai và thực hiện quyết liệt để các dự án sớm hoàn thành đúng kế hoạch. Tuy nhiên, còn một số công trình, dự án chậm tiến độ, đề nghị các chủ đầu tư và các sở, ngành tập trung tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra biện pháp khắc phục tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị thi công thực hiện đúng tiến độ các công việc tồn đọng còn lại trong dự án, đặc biệt bố trí vốn cho các công trình dự án trọng điểm, công trình dự án sắp hoàn thành để dự án nhanh chóng đưa vào sử dụng, đảm bảo an sinh xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của người dân trong vùng và quanh vùng có dự án.

IV. THƯƠNG MẠI

1. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2017 tăng 0,23% so với tháng trước; tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước; tăng 4,70% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân cùng kỳ tăng 4,62%. Giá lương thực, thực phẩm tăng, giá bình quân nhiên liệu xăng, dầu, chất đốt tháng 11 tăng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá CPI tháng 11 tăng.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 6 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng với mức tăng từ 0,02% đến 0,56% so với tháng trước, cụ thể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,06%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 0,27%.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình có chỉ số giá giảm 0,11% so với tháng trước. Các nhóm Bưu chính viễn thông; Giáo dục; Văn hóa, giải trí và du lịch; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá không đổi so với tháng trước.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 11 năm 2017 so tháng trước của một số nhóm hàng chính

- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,56%)

+ Lương thực (+ 0,03%)

Chỉ số giá lương thực tháng 11 tăng 0,03% so với tháng 10 là do chỉ số giá nhóm bột mì và ngũ cốc tăng 0,37%; lương thực chế biến tăng 0,08%. Nguyên nhân là do thời tiết không thuận lợi mưa nhiều, nước lũ về đã ảnh hưởng đến việc trồng trọt của bà con nông dân, các mặt hàng nông sản như khoai lang, khoai mì sản lượng bị giảm mạnh do đất bị ngập úng. Giá một số mặt hàng lương thực tại các chợ cụ thể như sau: gạo tẻ thường gạo Tài Nguyên ở mức 13.000 đồng/kg - 14.000 đồng/kg, gạo Hàm Châu ở mức 11.000 đồng/kg - 12.500 đồng/kg, gạo tẻ ngon Đài Loan có giá từ 15.000 đồng/kg - 16.000 đồng/kg, gạo tẻ ngon Thơm Thái có giá từ 14.000 đồng/kg - 17.000 đồng/kg, bắp (ngô) có giá từ 25.000 đồng/10 bắp - 30.000 đồng/10 bắp, khoai có giá từ 12.000 đồng/kg - 17.000 đồng/kg, khoai mì có giá từ 8.000 - 13.000 đồng/kg. Miến dong có giá từ 55.000 đồng/kg - 70.000 đồng/kg.

+ Thực phẩm (+ 0,90%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,90% so với tháng trước chủ yếu là do tác động tăng giá mạnh của nhóm thịt heo tăng 1,11%; trứng các loại tăng 5,70%; thủy sản tươi sống, chỉ số tăng 1,28%; nhóm rau tươi, khô và chế biến chỉ số tăng 3,77% so với tháng trước. Nguyên nhân là do ảnh hưởng thời tiết mưa nhiều, nước lũ dâng cao gây khó khăn trong việc nuôi, trồng, vận chuyển hàng hóa do đó đã đẩy giá các mặt hàng thực phẩm tăng cao. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng đang bắt đầu thu mua nguyên liệu để chế biến hàng phục vụ Tết nên đã đẩy giá một số mặt hàng thực phẩm tăng cao như trứng, thủy sản, thịt gia súc...

- Đồ uống và thuốc lá (+ 0,14%)

Chỉ số giá nhóm đồ uống thuốc lá tăng 0,14% so với tháng trước chủ yếu là do tác động tăng giá của một số mặt hàng như bia, rượu, thuốc lá. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng cuối năm đang tăng nên một số mặt hàng đã điều chỉnh tăng giá bán.

- May mặc, mũ nón, giày dép (+ 0,06%)

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06% so với tháng trước. Nhìn chung các mặt hàng quần áo may sẵn trong tháng có giá ổn định, do nhu cầu mua sắm chưa tăng cao, thêm vào đó trong tháng có các đợt giảm giá mạnh như ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày nhà giáo 20/11, ngày Black Friday nên ngay từ những ngày đầu của tháng 11 nhiều cửa hàng kinh doanh trên địa bàn thành phố đã có những chương trình khuyến mãi giảm giá cho khách hàng. Chỉ có một số loại mặt hàng tăng giá nhẹ là quần áo lót người lớn tại chợ Thốt Nốt, bít tất nữ tại chợ Bình Thủy tăng, dịch vụ cho thuê áo dài, áo vest tăng giá do nhu cầu đang tăng trong mùa cưới.

- Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+ 0,06%)

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,06% so với tháng trước là do tác động tăng giá của nhóm Dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,95%; Nước sinh hoạt tăng 0,26%; Điện sinh hoạt tăng 0,40%; Gas và các loại chất đốt khác tăng 0,02%. Nguyên nhân là do nhu cầu sửa chữa nhà vào dịp cuối năm đã làm cho giá thuê thợ sửa chữa nhà tăng lên, việc sử dụng điện, nước trong tháng tăng, giá gas trong tháng ổn định nhưng giá dầu hỏa trong tháng tăng 620 đồng/lít  so với giá tháng trước, tất cả đã tác động làm tăng chỉ số nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.

Giá cát xây dựng giảm và ổn định trở lại sau một thời gian tăng cao nguyên nhân do nguồn cung cát tăng. Giá thép xây dựng tháng 11 bắt đầu giảm do tác động của giá phôi thép, thép phế liệu thế giới giảm nên giá thép sản xuất tại các nhà máy trong nước giảm từ 300 - 700 đồng/kg tùy từng chủng loại. Việc giá thép, cát xây dựng giảm đã tác động làm chỉ số nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng không tăng cao.

- Thiết bị và đồ dùng gia đình (-0,11%)

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,11% so với tháng trước chủ yếu là do nhóm Đồ dùng trong nhà giảm 0,15%, cụ thể là Đồ dùng nấu ăn giảm 0,09%; hàng dệt trong nhà giảm 0,27%; Xà phòng, chất tẩy rửa giảm 0,28%. Các mặt hàng giảm giá trong tháng gồm ấm đun nước siêu tốc, phích điện đun nước, chiếu trúc, xà bông giặt, dầu gội đầu. Nguyên nhân do chương trình khuyến mãi giảm giá của một số cơ sở kinh doanh.

Tuy nhiên cũng có một số hàng hóa trong nhóm tăng giá do chi phí nguyên liệu sản xuất tăng như chổi cỏ, tã giấy trẻ em tăng. Các mặt hàng này tăng giá đã làm cho chỉ số nhóm Vật phẩm tiêu dùng khác thuộc nhóm Thiết bị và đồn dùng gia đình tăng 0,12%. Nhóm dịch vụ trong gia đình tăng 0,21% so với tháng trước do giá thuê bộ bàn ghế tăng do nhu cầu tăng.

- Thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%)

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% so với tháng trước nguyên nhân chủ yếu là do tác động tăng giá của nhóm thuốc chống nhiễm và điều trị ký sinh trùng tăng nhẹ do thời tiết giao mùa, mưa, lũ khiến cho nhiều bệnh về đường hô hấp, đường ruột dễ phát sinh nên giá nhóm thuốc này tăng nhẹ. Các loại thuốc và dịch vụ y tế khác có giá trong tháng ổn định so với tháng trước.

- Giao thông (+ 0,27%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,27% so với tháng trước chủ yếu là do tác động của chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,40%. Nguyên nhân do giá xăng dầu tăng mạnh so với tháng 10. Giá xăng A95, A92 tăng thêm 710 đồng/lít, giá dầu diesel tăng thêm 600 đồng/lít so với giá xăng, dầu cuối tháng 10.

Tuy nhiên do chỉ số giá nhóm phương tiện đi lại giảm 1,61%, chỉ số nhóm phụ tùng giảm 1,67% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá một số loại xe ô tô 4 chỗ giảm, một số dòng xe honda Wave RS giảm và giá một số mặt hàng phụ tùng xe máy giảm. Chỉ số giá của các nhóm này giảm đã tác động kéo chỉ số giá nhóm Giao thông không tăng mạnh do tác động tăng giá của nhiên liệu xăng, dầu.

- Chỉ số giá vàng (-0,45%)

Chỉ số giá vàng giảm 0,45% so với tháng trước. Nguyên nhân giá vàng trong nước giảm là do giá vàng thế giới giảm dưới tác động tăng giá của đồng USD mặc dù những ngày cuối tháng giá vàng có tăng nhẹ trở lại nhưng tăng không đáng kể, giá bình quân tháng vẫn thấp hơn giá vàng bình quân tháng 10. Giá vàng 99,99% ngày 21/11/2017 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 3.566.000đ/chỉ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,05%)

Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,05% so với tháng trước. Nguyên nhân đồng USD giảm do tác động của tình hình kinh tế của Mỹ. Tỷ giá bán ra ngày 21 tháng 11 trên địa bàn là 22.745 đồng/USD.

2. Nội thương

Tình hình kinh doanh của các Doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Cần Thơ tiếp tục phát triển tương đối ổn định. Doanh thu ước tính tháng 11/2017 tăng so với tháng trước. Ước tháng 11/2017, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 9.101,27 tỷ đồng tăng 12,51% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 5.551,83 tỷ đồng tăng 10,69% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 2.441,37 tỷ đồng tăng 17,55% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 913,7 tỷ đồng tăng 11,96% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,92% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11/2017 đạt 7.455,78 tỷ đồng tăng 12,10% so cùng kỳ. Khách sạn nhà hàng ước đạt 694,19 tỷ đồng tăng 15,60% so cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính 11 tháng năm 2017 đạt 96.644,98 tỷ đồng tăng 11,37% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 58.769,26 tỷ đồng tăng 10,10% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 26.294,58 tỷ đồng tăng 15,80% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 9.511,27 tỷ đồng tăng 9,85% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,15% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 11 tháng năm 2017, ước đạt 78.428,46 tỷ đồng tăng 11,48% so cùng kỳ; Khách sạn nhà hàng ước đạt 8.014,03 tỷ đồng tăng 13,10% so cùng kỳ.

V. GIAO THÔNG VẬN TẢI

1. Vận tải hàng hoá: Tháng 11/2017, ước vận chuyển 1.393,58 ngàn tấn hàng hoá tăng 1,35% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 207,86 triệu T.Km đạt 100,90% so cùng kỳ. Ước 11 tháng năm 2017 vận chuyển 9.611,95 ngàn tấn hàng hóa tăng 1,39% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.612,95 triệu T.Km đạt 100,95% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2017, ước vận chuyển đạt 729,11 ngàn tấn tăng 1,51% so cùng kỳ (luân chuyển 86,95 triệu T.Km đạt 100,88% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển đạt 617,16 ngàn tấn tăng 1,18% so cùng kỳ (luân chuyển 73,60 triệu T.Km đạt 100,95% so cùng kỳ). Đường biển ước vận chuyển đạt 47,31 ngàn tấn tăng 1,09% so cùng kỳ (luân chuyển 47,31 triệu T.Km đạt 100,86% so cùng kỳ).

2. Vận tải hành khách: Tháng 11/2017, ước vận chuyển 3.234,46 ngàn lượt hành khách tăng 1,14% so cùng kỳ; luân chuyển 69,79 triệu lượt HK.Km đạt 100,77% so cùng kỳ. Ước 11 tháng năm 2017 vận chuyển 20.127,36 ngàn lượt HK tăng 1,57% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 462,87 triệu HK.Km đạt 100,82% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2017, ước vận chuyển 1.989,5 ngàn lượt HK tăng 1,07% so cùng kỳ (luân chuyển 67,47 triệu HK.Km đạt 100,76% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển 1.244,96 ngàn lượt HK tăng 1,27% so cùng kỳ (luân chuyển 2,32 triệu HK.Km đạt 101,04% so cùng kỳ).

VI. NGÀNH TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG

1. Tài chính ngân sách

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 11/2017, tổng thu NSNN 10.033,76 tỷ đồng đạt 76,91% dự toán, trong đó thu nội địa là 7.768 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 1.508,57 tỷ đồng đạt 65,51% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.359,23 tỷ đồng đạt 73,12% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 997,46 tỷ đồng đạt 48,19% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 611,49 tỷ đồng đạt 90,59% so dự toán. Tính đến 20/11/2017 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 1.702,13 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 16,96% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 127,5% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước thực hiện đến 20 ngày tháng 11/2017 ngân sách đã chi 8.364,08 tỷ đồng chiếm 74,93% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 3.864,15 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.382,35 tỷ đồng.

b. Tín dụng ngân hàng: Vốn huy động đến cuối tháng 11 năm 2017 ước đạt 66.200 tỷ đồng, tăng 12,15% so với đầu năm, trong đó vốn huy động trên 12 tháng là 24.300 tỷ đồng, chiếm 36,71% trong tổng vốn huy động.

          Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 11 năm 2017 ước đạt 68.200 tỷ đồng, tăng 11,96% so với đầu năm, trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 62.400 tỷ đồng, chiếm 91,5% trong tổng dư nợ cho vay, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 5.800 tỷ đồng, chiếm 8,5% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 39.800 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 28.400 tỷ đồng.

Nợ xấu đến cuối tháng 11 năm 2017 ước là 1.650 tỷ đồng, chiếm 2,42% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,3 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng mức 4,5% - 5,4%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,4% - 6,5%, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,8% - 7,2%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn. 

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 3% - 5%/năm, trung dài hạn 5,5% - 6,5%/năm.

VII. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ - XÃ HỘI                                                     

1.     Văn hóa - thể thao

Văn hóa:

Công tác bảo tàng: Tổ chức phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng và Trạm Vệ tinh thu hút 1.472 lượt (243 lượt khách nước ngoài và 18 đoàn). Triển khai công tác giáo dục truyền thống và di sản văn hóa trong học đường tại 17 trường với 19 buổi sinh hoạt. Tìm hiểu 02 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, thu hút 15.661 lượt giáo viên, học sinh, sinh viên tham dự. Triển lãm Tình đoàn kết các dân tộc Kinh - Hoa - Khmer triển lãm với chủ đề Văn hóa - nghệ thuật truyền thống Nam bộ tại thành phố Cần Thơ, thu hút tổng cộng 4.300 lượt khách.

Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Các di tích Lịch sử-Văn hóa đã xếp hạng trên địa bàn thành phố, hoạt động giáo dục truyền thống, di sản văn hóa trong học đường và triển lãm ảnh, thu hút 23.596 lượt người. Tổ chức hoạt động trình diễn, truyền dạy và tặng chữ thư pháp, thu hút 2.000 lượt khách, tổ chức 05 chương trình “Tìm về di sản” cho 350 học sinh của 7 trường trên địa bàn quận Ô Môn. Thực hiện thủ tục xuất bản ấn phẩm giới thiệu Di tích Lịch sử - Văn hóa Chiến thắng Ông Hào (Phong Điền).

Công tác thư viện: Hệ thống thư viện và phòng đọc sách trong toàn thành phố phục vụ: 247.388 lượt người đọc với 494.776 lượt sách báo (Thư viện thành phố: 127.687 lượt người đọc, 255.374 lượt sách báo). Giới thiệu 24 quyển sách trên các phương tiện thông tin. Thực hiện 12 chương trình truyền thanh thư viện. Xử lý biên mục: 777 tên/2.694 bản sách và 184 đĩa CD cho Phòng đọc điện tử. Biên soạn 01 thư mục sách mới: 290 tên tài liệu. Tổ chức 03 cuộc triển lãm sách, với 1.900 quyển sách, thu hút 5.500 lượt người xem.

Nghệ thuật:

Liên hoan, hội thi và hội diễn

Trung tâm Văn hóa thành phố: Tham gia Ngày hội VHTTDL đồng bào Khmer Nam Bộ lần thứ VII, tại tỉnh Bạc Liêu. Tổ chức biểu diễn 12 buổi chương trình văn nghệ tuyên truyền chủ đề: “Cần Thơ - Miền Du lịch xanh”, thu hút khoảng 3.600 lượt người xem. Thực hiện 04 chương trình nghệ thuật định kỳ tại Bến Ninh Kiều, thu hút khoảng 1.200 lượt người xem.

Nhà hát Tây Đô: Tham gia cuộc thi Tài năng trẻ diễn viên sân khấu cải lương và dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2017 tại tỉnh Đồng Nai, đạt 01 HCV và 01 HCB. Tổ chức 05 chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ hàng tuần, tại Chợ nổi Cái Răng thu hút gần 1.000 lượt người xem. Đoàn Ca múa kịch Lưu Hữu Phước và Đoàn Cải lương Tây Đô biểu diễn 07 cuộc, thu hút khoảng 3.500 lượt người xem.

Thể dục - thể thao:

Thể thao quần chúng: Tổ chức các môn: Vovinam, Bi sắt, Đẩy gậy, Judo, Taekwondo, Võ thuật Cổ truyền, Xe đạp, Bóng chuyền và Karatedo Đại hội TDTT TP. Cần Thơ lần thứ VIII - năm 2017, với 950 HLV - VĐV của 09 quận, huyện và 2 ngành (Công an thành phố và Cảnh sát PCCC), thu hút khoảng 17.800 lượt người xem.

Tổ chức các giải thể thao trong Lễ hội Ok Om Bok thành phố năm 2017, tại quận Ô Môn, thu hút khoảng 500 lượt người người xem.

Tổ chức Đại hội Liên đoàn Vovinam TP. Cần Thơ nhiệm kỳ 2017 - 2022.

Thể thao thành tích cao: Cử 15 huấn luyện viên và 64 vận động viên tham dự 08 giải thể thao (07 giải quốc gia và 01 giải mời tỉnh Kiên Giang), đạt 22 huy chương các loại (07 HCV - 08 HCB - 07 HCĐ). Nâng tổng số huy chương đạt 549 huy chương các loại (157 HCV, 168 HCB và 224 HCĐ), đạt 142,6% KH/năm, trong đó có 05 HCV - 02 HCB thế giới tại Giải Taekwondo bãi biển thế giới và giải Vovinam thế giới; 30 huy chương Châu Á, Đông Nam Á, giải mời quốc tế (11 HCV- 13 HCB và 06 HCĐ) ở các môn: Cờ vua, Boxing, Taekwondo, Điền kinh và Karatedo; trong đó có 01 HCB môn Karatedo tại Saegames 29. Tham dự Đại hội TDTT ĐBSCL xếp hạng Nhì toàn đoàn, với 147 huy chương các loại (57 HCV-40 HCB – 50 HCĐ).

 

2.     Giáo dục

 

Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên
các cấp học, bậc học đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học mới. Dự các lớp tập huấn chuyên môn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

Ngành Giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ hỗ trợ 34 giáo viên và 38 học sinh có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo với tổng số tiền hơn 90 triệu đồng.

Tính đến tháng 11 năm 2017, ngành đã phối hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố kiểm tra công nhận 42 trường đạt  chuẩn quốc gia (16 trường mầm non, 16 trường tiểu học, 08 trường trung học cơ sở và 02 trường trung học phổ thông), đạt và vượt 5% chỉ tiêu được giao cho
năm 2017. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 282/459 trường, tỷ lệ 61,44%, trong đó, mầm non 99/179 trường, tỷ lệ 55,31%; tiểu học 122/181 trường, tỷ lệ 67,40%; trung học cơ sở 44/66 trường, tỷ lệ 66,67%; trung học phổ thông 17/33 trường, tỷ lệ 51,52%.

Trong thời gian qua, ngành đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài để phổ biến chủ trương, thông tin và hoạt động của ngành đến người dân.

3. Y tế - khám chữa bệnh

          Tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh: Tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Sốt xuất huyết trong tháng ghi nhận 120 trường hợp mắc, giảm 33,33% so với tháng trước. Lũy tích từ đầu năm đến nay (13/11/2017) có 1.099 trường hợp mắc, tăng 52,22% so cùng kỳ (722 cas) không có tử vong. Tay chân miệng trong tháng ghi nhận 98 trường hợp mắc, giảm 20,97% so với tháng trước. Lũy tích từ đầu năm đến nay ghi nhận 842 trường hợp mắc, tăng 5,9% so cùng kỳ (795 cas) không có tử vong. Sởi trong tháng không ghi nhận trường hợp mắc. Cùng kỳ năm 2016 mắc 01 cas. Thủy đậu trong tháng ghi nhận 1 trường hợp mắc, giảm 3 trường hợp so với tháng trước. Lũy tích từ đầu năm đến nay 35 trường hợp mắc, tăng 66,67% so cùng kỳ (21). SARS, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1) trong tháng không ghi nhận trường hợp mắc. Tiêu chảy 443 ca, tăng 12,15% so với tháng trước.

          Công tác phòng chống HIV/AIDS: Đến ngày 31 tháng 10 năm 2017, tổng số người nhiễm HIV phát hiện được là 5.914 người, trong đó tử vong 2.345 người, số người nhiễm HIV còn sống là 3.569 người (hiện quản lý được 3.028 người và 541 người chưa xác định). Số người nhiễm HIV phát hiện mới là 161 người, số chuyển sang AIDS 66 người và số tử vong là 33 người. So với cùng kỳ 2016, số người nhiễm HIV giảm 38 người, chuyển sang AIDS giảm 117 người và tử vong do HIV/AIDS giảm 04 người.

Công tác khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Triển khai thực hiện thí điểm việc lập hồ sơ, khám và quản lý sức khỏe người dân tại 18 Trạm Y tế hoạt động lồng ghép phòng khám bác sỹ gia đình đồng thời bổ sung nhiệm vụ hoạt động lồng ghép phòng khám bác sỹ gia đình đối với 18 trạm y tế xã phường, thị trấn.

Triển khai Thông tư số 39/2017/TTBYT quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở bao gồm các dịch vụ kỹ thuật, thuốc, hóa chất, vật tư để chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao sức khỏe, dự phòng và điều trị áp dụng đối với các cơ sở y tế tại tuyến y tế cơ sở (gồm tuyến huyện và tuyến xã) và mọi người dân.

Các đơn vị trực thuộc chủ động triển khai các biện pháp ứng phó với diễn biến của áp thấp nhiệt đới và mưa lũ trên địa bàn thành phố Cần Thơ.

Phục vụ y tế Giải Xe đạp Đại hội Thể dục thể thao TP Cần Thơ từ ngày 09 – 11/11/2017.

Kiểm tra công tác y tế cuối năm 2017 đối với các đơn vị trực thuộc (không giường bệnh).

4.  Chính sách lao động - xã hội

          Giải quyết việc làm: Giải quyết việc làm cho 5.088 lao động, lũy kế từ đầu năm đã giải quyết việc làm cho 55.466 lao động (có 125 lao động đi làm việc ở nước ngoài), đạt 110% kế hoạch năm 2017, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố đã tư vấn nghề nghiệp, việc làm, quan hệ lao động cho 7.727 lượt người; kết nối việc làm trong nước cho 755 lao động; đào tạo nghề và kỹ năng lao động cho 1.297 lượt người. Tổ chức các hoạt động tư vấn, đào tạo kỹ năng với trên 1.400 lượt người tham dự như: Tư vấn kỹ năng tìm việc và chuẩn bị hồ sơ cho phụ nữ các quận: Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và huyện Phong Điền; Tư vấn tập thể về Chương trình tuyển chọn ứng viên Nam tham gia Chương trình thực tập sinh đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản (chương trình IM JAPAN) năm 2017; Thăm và kiểm tra các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Tổ chức lớp kỹ năng giao tiếp cho học viên của Trung tâm và học viên là người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp; Tổ chức cuộc thi tìm hiểu chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp bằng hình thức trực tuyến tại thành phố Cần Thơ năm 2017 và các hoạt động khác.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp cho 4.015 người. Lũy kế từ đầu năm, tuyển mới và đào tạo nghề cho 39.074 người (1.582 cao đẳng, 1.537 trung cấp, 21.572 sơ cấp và 14.383 đào tạo thường xuyên, trong đó nữ: 11.143 người), đạt 95,3% so với kế hoạch năm 2017, tăng 2,7% so với năm 2016.

Thực hiện theo dõi, giám sát, dự khai giảng, bế giảng các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn năm 2017: đã tổ chức khai giảng 131 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn (đạt 100% kế hoạch năm) với 4.125 học viên.

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng: Toàn thành phố hiện có 7.185 đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, có 60 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, tất cả các Mẹ đều đã được các đơn vị nhận phụng dưỡng. Tiếp nhận, xét duyệt và giải quyết 82 hồ sơ chế độ chính sách. Xác nhận thăm viếng mộ: 03 trường hợp; trả lời thư tìm mộ: 02 trường hợp; Báo tin mộ liệt sĩ: 01 trường hợp. Trả lời thư chính sách: 04 trường hợp. Thực hiện đăng ký cấp thẻ bảo hiểm y tế đến đối tượng Người có công đạt 14.950 thẻ: tăng mới 09 thẻ; giảm 42 thẻ. Cấp giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ: 11 hồ sơ. Thực hiện trợ cấp khó khăn cho Người có công bị bệnh nặng từ nguồn đảm bảo xã hội cho 13 trường hợp với tổng số tiền là 165 triệu đồng.

Công tác bảo trợ xã hội, giảm nghèo: Trợ cấp thường xuyên cho 38.162 đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng với tổng kinh phí 13.828,18 triệu đồng. Ban hành quyết định tiếp nhận nuôi dưỡng tập trung 13 đối tượng; lũy kế từ đầu năm đã ban hành quyết định nuôi dưỡng tập trung cho 154 đối tượng: 68 đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng dạng tâm thần kinh, 81 đối tượng lang thang, 05 trẻ em bị bỏ rơi. 

Trung tâm Bảo trợ xã hội hiện đang quản lý 546 đối tượng (trong tháng tiếp nhận 08 đối tượng; giảm 07 đối tượng); trong đó gồm 95 đối tượng lang thang, 451 đối tượng tâm thần kinh. Tiếp đoàn đại diện của tổ chức MEET Hoa kỳ đến làm việc tại Trung tâm với nội dung giao lưu và mong muốn hợp tác chia sẻ kinh nghiệm các mô hình quản lý, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho các đối tượng. Hướng dẫn, tư vấn cho thân nhân, gia đình có nhu cầu xin bảo lãnh về gia đình tiếp tục quản lý và điều trị trên 120 lượt người. Công tác tiếp nhận quản lý hồ sơ của đối tượng được thực hiện đảm bảo chặt chẽ về trình tự, thủ tục đúng quy định, kịp thời bổ sung, chấn chỉnh những thiếu sót, vướng mắc. Đảm bảo tình hình an ninh, trật tự được giữ vững ổn định, thường xuyên kiểm tra, tuần tra, đảm bảo trực gác 24/24 giờ. Luôn đề cao cảnh giác phòng chống cháy nổ, trực thăm nuôi theo quy định. Tổ chức phục hồi chức năng cho đối tượng bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú như: lao động nhẹ quét rác, vệ sinh quanh cơ quan, chăm sóc hoa kiểng tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp có 225 lượt tham gia. Khám, điều trị bệnh thông thường 1.569 lượt, điều trị bệnh theo toa cho 223 lượt. Khám và chỉnh liều thuốc tâm thần 95 đối tượng.

Trung tâm Công tác xã hội hiện đang nuôi dưỡng 85 đối tượng gồm 60 nam, 25 nữ. Tiếp nhận 11 cuộc gọi đến tổng đài tư vấn miễn phí 18008065 về các lĩnh vực hỗ trợ tư vấn. Thực hiện 03 buổi giáo dục kỹ năng sống, định hướng nghề nghiệp cho đối tượng tại cơ sở Bảo trợ xã hội. Kết hợp cùng Báo Cần Thơ thực hiện phóng sự và viết 02 tin bài về các chuyên đề nhằm giới thiệu chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm, các Mô hình phát triển cộng đồng được Trung tâm triển khai, quản lý và thực hiện tại các quận huyện. Thực hiện 03 lớp tập huấn cho tổng phụ trách và giáo viên tư vấn học đường của các trường THCS về công tác BVCSTE tại quận Ô Môn, quận Thốt Nốt và huyện Cờ Đỏ với 108 lượt giáo viên tham dự. Thực hiện 01 buổi đối thoại nâng cao kỹ năng cho phụ nữ về phòng chống bạo lực gia đình tại quận Thốt Nốt với 50 lượt phụ huynh tham dự. Tổ chức 06 buổi sinh hoạt định kỳ mô hình CLB Tuổi hồng. Kết nối mạnh thường quân đến hỗ trợ trực tiếp cho 02 bệnh nhân đang điều trị ung thư; Hỗ trợ hướng dẫn thủ tục cho 01 trường hợp sinh năm 2014 đến nay chưa có giấy khai sinh, đang tạm trú tại phường An Cư, quận Ninh Kiều; Hướng dẫn cho 02 bệnh nhân điều trị ung thư gởi hồ sơ về Quỹ Ngày mai tươi sáng và được duyệt hỗ trợ 5.000.000đ/01 trường hợp; Phân công 01 viên chức, hàng tuần đến bệnh viện, phối hợp cộng tác viên CTXH bệnh viện thực hiện công tác tiếp nhận, tư vấn và hỗ trợ cho bệnh nhân tiếp cận các dịch vụ y tế, trợ giúp pháp lý. Phối kết hợp cùng Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, Tổ chức Save the Children thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ dự án “Quản trị quyền trẻ em” tại quận Ô Môn, quận Thốt Nốt, quận Cái Răng, huyện Cờ Đỏ và huyện Phong Điền. Phối hợp cùng Hội bảo trợ trẻ em TPHCM thực hiện hợp phần của dự án Dynamo hỗ trợ chi phí học nghề cho 01 trường hợp tại Trung tâm dạy nghề Tây Đô và chi phí học văn hóa cho 02 trường hợp là thành viên mô hình CLB Tuổi hồng. Trong tháng khám và điều trị tại chỗ cho 415 lượt đối tượng, với các bệnh thông thường viêm đường hô hấp trên, rối loạn tiêu hóa, viêm da dị ứng, suy hô hấp, đưa 07 lượt đối tượng đi khám tại các bệnh viện trong TP Cần Thơ.

CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ

 

 Các biểu số liệu:

01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

Xem

02. Chi ngân sách địa phương

Xem

03. Sản xuất nông nghiệp đến ngày 09/8/2017

Xem

04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Xem

05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Xem

06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Xem

09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Xem

10. Vận tải hành khách

Xem

11. Vận tải hàng hóa

Xem

 

 

 

Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2017 (29/12/2017)
Tình hình KT-XH tháng 10/2017 (30/10/2017)
Tình hình KT-XH tháng 9/2017 (26/09/2017)
Tình hình KT-XH tháng 8/2017 (30/08/2017)
Tình hình KT-XH tháng 7/2017 (28/07/2017)
Tình hình KT-XH tháng 6/2017 (06/07/2017)
Tình hình KT-XH tháng 5/2017 (01/06/2017)
Tình hình KT-XH tháng 4/2017 (03/05/2017)
Tình hình KT-XH tháng 3/2017 (29/03/2017)
Tình hình KT-XH tháng 02/2017 (28/02/2017)
Thông báo
Thông báo số 89/TB-UBND ngày 27/12/2017 v/v Trợ cấp khó khăn Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2018
Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 11/12/2017 của UBND thành phố Cần Thơ v/v phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2017
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2017
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2017
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2017
Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê bộ, cơ quan ngang bộ
Trang điều hành tác nghiệp Tổng điều tra kinh tế 2017
Tra cứu danh mục ngành kinh tế quốc dân Việt Nam (VSIC 2007)
Thay đổi mã vùng điện thoại cố định
Đang online: 19
Hôm nay: 254
Hôm qua: 287
Tuần này: 1,501
Tuần trước: 2,162
Tháng này: 5,330
Tháng trước: 9,169
Tất cả: 67,119
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: (0292) 3734 641 Email: cantho@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc Bảy - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Cần Thơ